Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Bất thường vụ khám xét và bắt giử anh Đinh Nhật Uy ở Long An ngày 15/6/2013


Trưa hôm qua, 15/6/2013 nhiều Công an đã đến khu vực vườn nhà riêng của vợ chồng ông Đinh Văn Chuộn và bà Nguyễn Thị Kim Liên (là cha mẹ của 2 anh em Đinh Nguyên Kha và Đinh Nhật Uy) tại ấp 4, Mỹ Phú, Thủ Thừa, Long An trong khi cả 2 ông bà chủ nhà đều đi vắng khóa trái cửa ngoài, họ liền đi tìm bắt anh Đinh Nhật Uy và áp giải đưa anh đến nhà cha mẹ ép buộc anh phải phá khóa cửa để cho họ vào (sao họ không tự phá lại xúi người khác làm?), nhưng vì đây không phải là nhà của mình nên anh Uy không dám làm chuyện sai trái theo lời xúi dại của họ, sau khi ép buộc dụ dỗ anh Uy không được, họ quay qua (ép) buộc một người dân dùng kềm cắt khóa cửa nhà và sau đó họ vào nhà riêng của vợ chồng ông Chuộn, bà Liên tiến hành khám xét, khi đang làm cái việc (sai trái) thì bà Liên về đến, khi biết chuyện nhà của mình bị người ta ngang nhiên cắt khóa cửa mà không có mặt và không có sự đồng ý của chủ nhân, bà Liên tức giận đã (chỉ vào mặt) nói thẳng với người cắt khóa nhà mình: "anh cắt khóa cửa nhà tôi thì anh phải thường cho tôi", người dân này phân trần "mấy ông (công an) này kêu tôi cắt chứ đâu phải tôi tự ý cắt, có gì bà bắt họ thường", bà Liên trả lời: "anh cắt khóa cửa nhà của tôi thì anh phải thường cho tôi, còn ai kêu anh làm thì anh bắt họ thường là việc của anh" [không lẽ họ kêu anh ăn c** anh cũng ăn à].
 Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành thì trong việc khám xét nhà riêng của vợ chồng (ông Chuộn, bà Liên) cùng với việc bắt giử anh Đinh Nhật Uy có 2 điểm bất thường:
(1) Điểm bất thường thứ nhất:
Theo biên bản khám xét của cơ quan ANĐT công an tỉnh Long An đối với Đinh nhật Uy; SN.... Nơi đăng ký HKTT: số 584, Quốc lộ 62, P.6, TP.Tân An, Long An.
- Rỏ ràng là trong biên bản có ghi rỏ: (thi hành lệnh khám xét chổ ở số 04 ngày 12 tháng 6 năm 2013) "khám xét chổ ở đối với Đinh Nhật Uy HKTT số 584, Quốc lộ 62, P.6, TP.Tân An, Long An." nhưng không biết tại sao họ lại cố ý vô tình khám xét đã không đúng nơi và hoàn toàn không đúng địa chỉ: "ấp 4, Mỹ Phú, Thủ Thừa, Long An."
(2) Điểm bất thường thứ hai:
Chẳng những việc khám xét đã không đúng nơi và hoàn toàn không đúng địa chỉ, việc thu giử đồ đạc, vật dụng, tài sản lại càng tùy tiện hơn, vì đây không phải là nhà riêng của anh Đinh Nhật Uy mà là nhà riêng của vợ chồng ông Chuộn, bà Liên nên tất cả các vật dụng tài sản trong nhà hoàn toàn không phải của anh Uy. Điều đáng nói hơn là ông Chuộn là thợ tiện cơ khí (điều khiển xử lý bằng máy tính) ông Chuộn đã mua một lô sắt để chế tác ra sản phẩm và con gái ông vừa mua cho ông một phần mềm chuyên dụng để xử lý điều khiển máy tính cày trong ổ cứng với giá 27 triệu đồng để ông thực hiện xử lý chế tác sản phẩm, họ biết rỏ điều này nhưng họ đã gở và thu cái ổ cứng của ông Chuộn khiến lô sắt ông đã mua định chế tác ra sản phẩm đã trở thành đống sắt vụn.
* Cũng cần nói thêm đây không phải mới một lần đầu họ làm sai mà lần trước khi họ khám xét thu giử vật dụng của Đinh Nguyên Kha thì họ cứ nhầm vào tài sản của Đinh nhật Uy mà thu giử, nay khi thu giử vật dụng của Đinh Nhật Uy thì họ lại cố tình nhầm vài tài sản của ông Đinh Văn Chuộn mà thu giử ?. Đây có phải là một sự nhầm lẫn có tính toán.
* Ngoài ra khi vào nhà họ gặp bất kỳ cái gì ngộ ngộ lạ lạ từ lớn đến bé họ đều muốn thu tất cả, như tấm giấy ghi dòng chử "TỰ DO HỘI HỌP là quyền CỦA CÔNG DÂN" mà cô Dương Thị Tân cầm chụp hình phía dưới họ cũng định thu giử nhưng bị cười mỉa mai khiến họ mắc cở xấu hổ phải để lại.
* Hơn nữa, biên bản đã ghi không đúng sự thật, người lập biên bản cố tình bỏ qua những tình tiết quan trọng như việc tự ý tùy tiện cắt khóa cửa mà không có mặt và không có sự đồng ý của chủ nhân...

*****

 Ngay từ đêm qua 15/6/2013 sau khi đến nhà Đinh Nhật Uy thăm gia đình và được nghe bà KimLiên (Mẹ của Nhật Uy và Nguyên Kha) kể lại vụ việc và nhất là đã được xem qua "biên bản khám xét" tôi đã ngay tức khắc thấy có việc "Bất thường vụ khám xét và bắt giử anh Đinh Nhật Uy ở Long An ngày 15/6/2013" nhưng hôm nay 16/6/2013 lại có tờ "báo hại" vẫn cố tung tin xuyên tạc, vu khống bôi nhọ...
Quả nhiên là đê tiện có khác...



Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Trưởng phòng QL XNC CA Vĩnh Long lạm quyền ?


Tóm tắt vụ việc:
  • Ngày 03/05/2012 Hộ chiếu sắp hết thời hạn, đến phòng quản lý XNC, Công an tỉnh Vĩnh Long làm thủ tục đổi/cấp hộ chiếu mới, sau khi điền hồ sơ, nộp hình, nộp phí và được cấp giấy biên nhận hẹn đến ngày 15/05/2012, nhưng khi đến nhận hộ chiếu Trung tá Hồ Văn Vũ cho biết là không cấp hộ chiếu mới với lý do “bị cấm xuất cảnh đến ngày xx/8/2014” (vì nói miệng nên không nhớ ngày). Yêu cầu cấp văn bản lý do phòng quản lý XNC Vĩnh Long không cấp/đổi hộ chiếu mới cho công dân. Nhưng chỉ trả lời miệng là: “cái này bên phòng bảo vệ chính trị 2, công an TP.HCM cấm, có gì anh đến đó hỏi”. Sau nhiều lần nhắc lại yêu cầu trả lời bằng văn bản nhưng chỉ được trả lời miệng: “đây là “tối mật” không cung cấp văn bản được, anh đến phòng phòng bảo vệ chính trị 2, công an TP.HCM, chắc anh biết chổ mà, trước ở đường Trần Hưng Đạo nay không biết chuyển đi đâu, anh chịu khó hỏi thăm đi”. Sau khi được luật sư tư vấn và tham khảo Nghị định số 136//2007/NĐ-CP ngày 17/08/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, xét thấy phòng ban của công an tỉnh, thành phố không có thẩm quyền cấm công dân xuất cảnh. Sau đó tôi đã 2 lần khiếu nại, tố cáo:
  • Lần 1: ngày 28/8/2012 khiếu nại đến Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Long không được trả lời.
  • Lần 2: ngày 17/1/2013 tố cáo đến Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Long và bộ Công an, ngày 04/02/2013 Thanh tra Công an bộ có công văn số 519/TB-V24 báo chuyển đến trưởng phòng quản lý XNC Vĩnh Long giải quyết, sau đó phòng quản lý XNC Vĩnh Long gởi giấy mời, ngày 7/3/2013 đến gặp Trưởng phòng QL XNC Vĩnh Long, trong khi trước đó Trung tá Hồ Văn Vũ cho biết là tôi bị phòng bảo vệ chính trị 2, công an TP.HCM cấm xuất cảnh đến ngày xx/8/2014, lần này Thượng tá Lê Thành Vũ lại nói khác đi là tôi bị cấm xuất cảnh vì lý do an ninh theo khoản 6, điều 21 chương IV nghị định 136/2007/NĐ/CP, nhưng tại điểm d, khoản 1, điều 22 có nói rõ “Bộ trưởng Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 6 Điều 21 Nghị định này.”
Tôi yêu cầu:
(1) cung cấp quyết định cấm xuất cảnh - không có.
(2) Yêu cầu cho văn bản việc từ chối không cấp hộ chiếu - không được.
(3) Yêu cầu lập biên bản theo quy định - cũng không được.
(4) Thậm chí đến giấy mời cũng bị thu lại. Đây là hành vi ném đá giấu tay, phi tang chứng cứ.
(5) Chưa nói đến việc thu phí của công dân để cấp Hộ chiếu nhưng không cấp thì số tiền đó đi về đâu ?
  • Sau hơn một năm kể từ ngày 3/5/2012 nộp hồ sơ đến ngày 5/6/2013 Thượng tá Lê Thành Vũ trưởng phòng mới gởi thông báo bằng văn bản trả lời cho biết cơ quan chưa cấp hộ chiếu "vì lý do an ninh Quốc gia và trật tự an toàn xã hội" theo khoản 6, điều 21 chương IV, nghị định 136/2007/NĐ/CP. Nhưng tại điều 22: Thẩm quyền quyết định chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh: tại điểm d có nói rõ “Bộ trưởng Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 6 Điều 21 Nghị định này.”


Có phải phòng QL XNC CA Vĩnh Long lạm/tiếm quyền Bộ trưởng CA
khi trả lời tiền hậu bất nhất?


Trích nguyên văn Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/08/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.
Chương IV - QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHƯA ĐƯỢC XUẤT CẢNH, CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRỊ XUẤT CẢNH, NHẬP CẢNH VIỆT NAM.
Điều 21. Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Khoản 6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Điều 22.
1. Thẩm quyền quyết định chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh:
d) Bộ trưởng Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 6 Điều 21 Nghị định này.




Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Chúng tôi sát cánh cùng nhóm SV Luật ra "Tuyên Ngôn Công Lý cho Đoàn Văn Vươn"


Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các - những sinh viên Luật khởi xướng Tuyên Ngôn Công Lý cho Đoàn Văn Vươn.

Chúng tôi, những công dân của nước Việt Nam, công khai danh tính, đồng nhận định rằng:
1. Tuyên ngôn Công Lý cho Đoàn Văn Vươn được thực hiện bởi những người yêu chuộng lẽ phải, không chỉ để nhắc nhở, mà còn khuyến khích cơ quan xét xử, trong hiện tình chính trị Việt Nam, can đảm thực hiện đúng chức phận bảo vệ công lý và pháp luật của mình.
2. Tuyên ngôn Công Lý cho Đoàn Văn Vươn hoàn toàn hướng đến mục tiêu mưu cầu công lý, sự thật và lẽ phải. Chính vì thế, Tuyên ngôn đã được hưởng ứng với hơn 2700 chữ ký của các người Việt Nam ở khắp nơi.
3. Việc Đoàn Thanh niên Cộng sản của Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh đăng tải bài viết trên website của họ, công khai cho rằng việc đưa ra Tuyên bố của ba công dân đồng thời là sinh viên Luật, Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các, “chỉ là hành động nhằm mục đích đánh bóng tên tuổi cá nhân... hành động này lại tạo nên ảnh hưởng xấu đến dư luận nói chung và cộng đồng Đoàn viên, sinh viên trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh nói riêng,” là một hành vi mang tính công kích cá nhân, xem thường quyền hiến định của các công dân Việt Nam trong việc lên tiếng, góp ý cho các vấn đề trong xã hội.
4. Đặc biệt, việc Đoàn Thanh niên trường này, trên website của họ, công bố hồ sơ cá nhân, đăng tải những dữ kiện riêng tư về điểm học tập của các sinh viên Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các, là một hành vi xâm phạm đến Quyền bí mật đời tư cá nhân được quy định tại Điều 25 và Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ những nhận định trên, chúng tôi, những công dân Việt Nam, cùng tuyên bố:
- Phản đối hành vi xuyên tạc, bôi nhọ, và vu khống dưới mọi hình thức đối với ba công dân đồng thời là sinh viên Luật, Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các.
- Ủng hộ việc ba sinh viên Luật, Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các, khởi kiện Đoàn Thanh niên Cộng sản trường Đại học Luật Tp. HCM với hành vi xâm phạm Quyền bí mật đời tư cá nhân được quy định tại Điều 25 và 37 Bộ luận Dân sự 2005.

Chúng ta - Công Dân Tự Do sát cánh cùng Nguyễn Trang Nhung, Bùi Quang Viễn và Phạm Lê Vương Các - những sinh viên Luật khởi xướng Tuyên Ngôn Công Lý cho Đoàn Văn Vươn.

* * * * *
http://tuyenngondvv.blogspot.com/2013/05/nhom-khoi-xuong-khoi-kien-oan-truong-h.html

NHÓM KHỞI XƯỚNG KHỞI KIỆN ĐOÀN TRƯỜNG ĐH LUẬT TP. HCM

Nhận thấy, sau khi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trường Đại Học Luật TP. HCM (Đoàn truờng)  đăng bài viết “Thực hư về những người khởi xướng Công lý cho Đoàn Văn Vươn” của tác giả Trung Nhân, chúng tôi đã có thư yêu cầu xin lỗi và thư đề nghị tranh luận về mặt pháp lý nhưng không đựợc Đoàn trường hồi đáp.

Nay, chúng tôi, những người khởi xướng Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn quyết định khởi kiện Đoàn trường về hành vi xâm phạm đến “quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín” được quy định tại Điều 37, và “quyền bí mật đời tư” được quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự.

Chúng tôi khởi kiện không nhằm mục đích thắng – thua trước phán quyết của Tòa án, cũng không xem đó là cơ hội để biện minh trước các cáo buộc của Đoàn trường. Việc chúng tôi khởi kiện là để nói với công luận nói chung và những người học luật nói riêng biết rằng:

1. Tinh thần thượng tôn pháp luật luôn cần được bảo đảm trong một môi trường giảng dạy và đào tạo luật. Việc tiếp tay xâm phạm vào quyền bí mật đời tư và dung túng cho hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự và uy tín của bất kỳ ai cần được kiên quyết lên án và loại trừ.

2. Chuẩn mực văn minh tối thiểu của những người sinh hoạt trong môi trường giáo dục, đặc biệt là giáo dục pháp luật là tinh thần sẵn sàng tranh luận, phản biện và tôn trọng lẫn nhau, thay vì hành xử vô trách nhiệm như quy chụp và cáo buộc theo cảm tính, để sau đó phải im lặng và né tránh như cách làm của Đoàn trường trong thời gian qua.

3. Việc xây dựng và rèn luyện nếp sống, thói quen sử dụng pháp luật như là công cụ để giải quyết các rắc rối và bảo vệ quyền lợi của mình là điều mà những người học luật cần tiên phong.

Vì lẽ đó, việc khởi kiện của chúng tôi là cần thiết. 
Nói đến những người học luật là nói đến tinh thần luật pháp, nơi đó ghi dấu hình ảnh của những người sẵn sàng sử dụng lý lẽ và tư duy để bảo vệ chính mình, và vì một nền Công lý cho tất cả.

Xem đơn kiện của Nguyễn Trang Nhung TẠI ĐÂY
Xem đơn kiện của Bùi Quang Viễn TẠI ĐÂY
Xem đơn kiện của Phạm Lê Vương Các TẠI ĐÂY

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

CẨM NANG PHÁP LUẬT PHỔ THÔNG

Nghiêm cấm việc tùy tiện tạm giữ người mà không có quyết định bằng văn bản
Trích nội dung THÔNG TƯ SỐ 26/2007/TT-BCA:
Ngày 15 tháng 11 năm 2007 Bộ Công an ban hành Thông tư số 26/2007/TT-BCA về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính (ban hành kèm theo Nghị định số 162/2004/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2004).
Theo qui định tại thông tư số 26 do Bộ Công an ban hành, thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm. Trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ.
Đối với người vi phạm qui chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn này có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 48 giờ. Việc kéo dài thời hạn tạm giữ chỉ được áp dụng trong trường hợp cần phải có thêm thời gian làm rõ lai lịch, thân nhân người vi phạm và những tình tiết quan trọng, phức tạp liên quan.
Khi chưa hết thời hạn ghi trong quyết định tạm giữ, nhưng đã điều tra, xác minh làm rõ, có đủ cơ sở kết luận và xử lý xong hành vi vi phạm, thì người ra quyết định tạm giữ phải ra quyết định chấm dứt ngay việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Khi có căn cứ cho rằng hành vi vi phạm pháp luật của người bị tạm giữ có dấu hiệu tội phạm, thì người ra quyết định tạm giữ phải chuyển ngay hồ sơ và người bị tạm giữ kèm theo tang vật, phương tiện vi phạm (nếu có) cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để giải quyết.
Trong mọi trường hợp, việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính đều phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền. Nghiêm cấm việc tùy tiện tạm giữ người mà không có quyết định bằng văn bản.

*****
Hiến pháp 1992
Chương V: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Điều 71:
Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.



oooOooo

GIẤY TRIỆU TẬP ĐƯỢC SỬ DỤNG KHI NÀO?
Một số người cứ nghe nói đến mấy từ “Giấy triệu tập” là hãi. Thật ra, giấy triệu tập chẳng có gì là ghê gớm, đó là một loại Giấy mời được các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) sử dụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự, và được quy định rõ, chi tiết cụ thể các trường hợp sử dụng trong Bộ Luật Tố Tụng Hình sự. Theo quy định, khi tiến hành hoạt động tố tụng không sử dụng Giấy mời mà chỉ có duy nhất giấy triệu tập.
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về việc dùng giấy triệu tập mà hệ thống cơ quan tố tụng phải tuân hành.
Thẩm quyền ký giấy triệu tập:
Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Điều tra viên (Điều 35), Kiểm sát viên (Điều 37), Thẩm phán (Điều 39) có thẩm quyền ký giấy triệu tập nhằm mục đích thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự..
Phạm vi nội dung làm việc khi triệu tập:
- Điều tra viên: Có quyền triệu tập để hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 35).
- Kiểm sát viên: Có quyền triệu tập để hỏi cung bị can; lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 37).
- Thẩm phán: Có quyền triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà (Điều 39).
Như vậy, quyền triệu tập đương sự của Thẩm phán rộng hơn Điều tra viên và Kiểm sát viên..
Đối tượng triệu tập:
- Bị can: phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (khoản 3 Điều 49).
- Bị cáo: phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án (khoản 3 Điều 50).
- Người bị hại: là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án (Điều 51).
- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nguyên đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại (khoản 3 Điều 52);
- Bị đơn dân sự: là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Bị đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. (khoản 3 Điều 53);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trình bày trung thực những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. (khoản 2 Điều 54).
- Người làm chứng: Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng. Người làm chứng có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án (khoản 4 Điều 55).
Người làm chứng có quyền:
a) Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
b) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
c) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa: gồm Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân (các điểm a, b, c khoản 1 Điều 56) phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án (điểm đ khoản 3 Điều 58).
BLTTHS không quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có quyền triệu tập người bảo vệ quyền lợi của đương sự không bị triệu tập.
- Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án (khoản 3 Điều 60).
- Người phiên dịch phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 2 Điều 61)..
* Đặc biệt, riêng người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền tham gia tố tụng nhưng cơ quan tố tụng lại không có quyền triệu tập:
Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người được người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự nhờ bảo vệ quyền lợi cho mình và được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có thể là: luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác (khoản 1 Điều 59).
Như vậy, công dân chấp hành giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng vừa là thực hiện quyền, vừa là nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, không có chuyện “được” hay “bị” triệu tập như một số người thường dùng để lòe người thiếu hiểu biết pháp luật..
Xác định tính hợp pháp của người ký giấy triệu tập:
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự đã quy định rõ phạm vi đối tượng có thể triệu tập, tức công dân phải là một trong những đối tượng có tư cách tham gia tố tụng là: bị hại, bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người giám định, người phiên dịch. Không được phép triệu tập khơi khơi để hỏi những chuyện vớ vẩn, linh tinh không liên quan đến một vụ án cụ thể.
Trước đây, Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định chỉ Trưởng, Phó cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền ký giấy triệu tập. Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự sửa đổi, bổ sung ngày 26/11/2003 quy định Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đều có quyền ký giấy triệu tập.
Vì vậy, để xác định giấy triệu tập được ký hợp pháp, tức người ký nhân danh cơ quan tố tụng triệu tập để làm việc phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử; chớ không phải nhân danh cá nhân Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Để tránh trường hợp lạm quyền, lấy công hành tư, thì người nhận giấy triệu tập cần đòi hỏi được biết Quyết định khởi tố vụ án Hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng.
- Xác định tư cách hợp pháp của người làm việc với người được triệu tập: Ví dụ: Giấy triệu tập do Điều tra viên A ký đóng dấu Cơ quan điều tra nhưng lại ghi gặp và làm việc với Điều tra viên B thì công dân phải yêu cầu ông B xuất trình Giấy chứng nhận Điều tra viên (còn gọi là Thẻ Điều tra viên) hoặc Quyết định bổ nhiệm Điều tra viên (nếu chưa có Thẻ), công dân có quyền từ chối làm việc với người không phải Điều tra viên..
Xác định tư cách tham gia tố tụng của người được triệu tập:
Khi một vụ án hình sự được khởi tố, thì mới xác định được ai là bị hại, ai là bị can, ai là bị cáo, ai là nguyên đơn dân sự, ai là bị đơn dân sự, ai là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ai là người làm chứng, ai là người bào chữa, ai là người giám định, ai là người phiên dịch.
Người được triệu tập có quyền yêu cầu Điều tra viên cho xem Quyết định khởi tố vụ án Hình sự, thông báo rõ tư cách tham gia tố tụng của mình là gì, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng riêng theo từng loại tư cách tham gia, và ghi rõ vào biên bản làm việc. Nếu Điều tra viên không chứng minh được những điểm đó với người được triệu tập làm việc thì người được triệu tập có quyền từ chối làm việc (người dân từ chối làm việc vì công an không hợp tác với người dân làm đúng theo quy định, chứ không phải người dân không hợp tác).
oooOooo

Một đất nước muốn phát triển bền vững không thể không tính đến yếu tố trình độ hiểu biết pháp luật hiện hành của công dân trong nước. Mù luật là cản trở sự phát triển. Đòi hỏi thực hiện những quyền và nghĩa vụ công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận cũng là chung tay xây dựng một Nhà nước pháp quyền để từng bước hòa nhập với cộng đồng thế giới.


Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Tuyên Bố - Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha vô tội và là những người yêu nước

Free-UyenKha

Trước bản án sai trái với tổng cộng 14 năm tù giam, 6 năm tù quản chế áp đặt lên hai sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha, những Công Dân Tự Do ký tên dưới đây đồng tuyên bố:

1. Bản án dành cho Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha đã dựa vào tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong khi mọi đối tượng mà những hành vi của bị cáo nhắm đến, theo cáo trạng tại tòa hoàn toàn không phải là Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phản đối hành động bành trướng, xâm phạm chủ quyền của đất nước không những là nghĩa vụ mà còn là quyền của mọi công dân theo quy định của Điều 44, 51, 69, 76, 77 của Hiến pháp Việt Nam.

3. Bày tỏ ý kiến về một đảng phái chính trị là biểu hiện của quyền tự do ngôn luận được bảo vệ chẳng những bởi Điều 69 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn bởi Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền vốn đã được Nhà nước Việt Nam ký kết và phê chuẩn.

Bởi thế, phán quyết của Toà cho rằng hai sinh viên yêu nước phạm tội Tuyên truyền chống Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự chẳng những thiếu căn cứ pháp lý mà còn vi hiến.

Do đó, Chúng Ta - Những Công Dân Tự Do kêu gọi: 

1. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước cùng ký tên vào Tuyên bố này để khẳng định quan điểm và lập trường của công dân Việt Nam: Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha vô tội và là những người yêu nước. 

2. Tiếp tục vận động các chính phủ, tổ chức quốc tế và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc để tranh đấu cho tự do của Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.

3. Công khai thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau việc vinh danh và tiếp tục thể hiện tinh thần Vì danh dự dân tộc, chống bá quyền Trung Quốc. Vì tương lai đất nước, chống bầy sâu tham nhũng của hai sinh viên yêu nước.

Ngày 17 Tháng 5, Năm 2013 

Khởi xướng Tuyên Bố: Chúng Ta - Công Dân Tự Do 

Liên hệ với nhóm khởi xướng qua email: tuyenbocongdantudo@gmail.com

Mời các bạn cùng tham gia và ký tên tại đây:
https://docs.google.com/forms/d/17oYoq7UQUV1tDTUuM7S4U8i0SzGS-f04STZffDYCbfM/viewform#start=openform

Xem danh sách chữ ký cập nhật tại đây:
https://docs.google.com/spreadsheet/ccc?key=0AhgST0W2zE3PdHdfY0x2N2F3SGoxX3pJU1JjcWlDN2c#gid=0

***

Ghi chú: Vì giá trị của bản Tuyên bố và với tinh thần trách nhiệm, công khai, minh bạch, xin các bạn và quý vị chỉ tham gia ký tên cho cá nhân mình với những dữ kiện đầy đủ như sau: tên họ, CMND (nếu là người trong nước), số nhà, đường, quận, thành phố, tỉnh...